Tài nguyên dạy học

Báo mới

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    1_anh.jpg DSC001511.jpg DSC08869.jpg DSC07254.jpg DSC07233.jpg DSC07263.jpg DSC07189.jpg DSC08578.jpg 0.May_bay_do_tham.swf 0.anh2cupid.swf 0.buon.flv 0.Gai_Que_(1).jpg 0.vui.flv

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Website của Trường THCS Võ Cường.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn THCS

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: D­ương Văn Dũng (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:22' 20-06-2008
    Dung lượng: 50.0 KB
    Số lượt tải: 1649
    Số lượt thích: 0 người
    A: Lý do chọn đề tài
    1) Cơ sở lý luận
    Môn ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trờng THCS. Góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn THCS, chuẩn bị cho họ hoặc ra đời tiếp tục học lên ở bậc cao hơn. Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu CNXH, biết hướng tới tương lai, tình cảm cao đẹp như: Lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ cái giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
    - Song song với việc đổi mới chương trình SGK ngữ văn là việc đổi mới phương pháp dạy học. Phương pháp mới ở đây chính là phơng pháp tích hợp. Trong Giáo dục hiện đại, tích hợp là phương pháp nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng lẻ các môn học, phân môn học khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau.
    2) Cơ sở thực tiễn
    Trước đây ở bậc THCS theo chương trình cũ có 3 phân môn văn học, tiếng việt, tập làm văn tách thành ba môn học độc lập, riêng lẻ. Hiện nay, theo quan điểm tích hợp đã hướng tới việc nhập 3 môn: Văn học, tiếng việt, tập làm văn lại thành một môn học chung được gọi là Ngữ văn. Như vậy trong mỗi đơn vị bài học hiện nay nói chung bài nào giáo viên cũng phải dạy cả văn học, tiếng việt, tập làm văn.
    Bài học nào cũng phải mở đầu bằng một văn bản, hoạt động đầu tiên giáo viên sẽ cho học sinh tiếp xúc văn bản (đọc, tìm hiểu chú thích) sau đó giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động cho học sinh khai thác tiếp cận những kiến thức văn học, tiếp theo sẽ dạy tiếng việt và tập làm văn sao cho vừa tơng ứng với những yếu tố ngôn ngữ, đợc sử dụng để viết ra bài văn đó nhng đồng thời vẫn bảo đảm truyền thụ được những kiến thức khác có tính tương đối độc lập của từng phân môn. Như vậy dạy học tiếng việt không tách rời việc tích hợp với phần văn bản và phần tập làm văn. Đây là vấn đề mà ngời giáo viên nào cũng cần phải quan tâm, đó cũng chính là lý do mà tôi chọn đề tài này.
    B: Nội dung và phương pháp
    Đối với mỗi một giờ dạy văn, dạy tập làm văn giáo viên đều phải thiết kế, tổ chức các hoạt động của trò (hoạt động của trò là chủ yếu) Để chiếm lĩnh văn bản, chiếm lĩnh những tri thức cần thiết. Tuy nhiên, do đặc thù của từng phân môn mà mỗi một giờ dạy văn, dạy tiếng việt, dạy tập làm văn, có tổ chức hoạt động riêng khác nhau.
    Để dạy được một tiết tiếng việt theo quan điểm tích cực đòi hỏi ở người giáo viên:
    - Trước hết giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình SGK để xem bài tiếng việt cần dạy đó nằm trong văn bản lớn nào và cần phải tích hợp với những phần nào? Trong quá trình tập hợp có thể tích hợp ngang hoặc tích hợp dọc.
    Giáo viên bám chắc vào mục tiêu bài học và nội dung trọng tâm của bài để có thể xây dựng câu hỏi một cách logíc, hệ thống. Chính hệ thống câu hỏi này sẽ có tác dụng phát huy được tính chủ động, sáng tạo ở học sinh.
    - Để làm được điều đó đòi hỏi ngời giáo viên phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn cũng nh năng lực sư phạm của mình.
    Đối với một giờ dạy tiếng việt giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm đến với các khái niệm
    Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu (mẫu có thể là một câu, một đoạn) được trích từ các văn bản mà học sinh vừa được học ở các phân môn văn hoặc nếu không khai thác được ở văn bản mẫu thì phần tích, tìm hiểu qua các bài tập SGK. Lưu ý: Đối với mẫu phân tích giáo viên cần lựa chọn mẫu mang tính tối ưu (tức là mẫu đó phải chứa đựng tương đối các vấn đề cần khai thác để đi đến việc hình thành khái niệm).
    Sau khi phân tích mẫu bằng một hệ thống câu hỏi thì gợi mở đến dẫn dắt, khái quát, giáo viên giúp học sinh tự rút ra được khái niệm (chứa đựng trong phần ghi nhớ)
    Sau khi các em đã nắm được các khái niệm, các kiến thức cần ghi nhớ giáo viên hướng dẫn cho các em luyện tập thực hành thông qua các bài tập để cũng cố khắc sâu kiến thức dạng bài tập đa dạng, phong phú sẽ giúp cho học sinh hứng thú hơn khi tiếp nhận tri thức có thể là dạng bài tập tìm, phát hiện, bài tập trắc nghiệm hoặc bài tập phân tích. Đây là cơ hội để học sinh có thể phát huy tính tự giác, tích cực của mình.
    Học sinh có thể làm việc độc lập hoặc thảo luận theo nhóm, tổ tuỳ vào yêu cầu của từng dạng bài tập mà giáo viên đa ra. Giáo viên để cho học sinh có thể tự do thảo luận, tranh luận các vấn đề xung quanh bài học, giáo viên cũng có thể để học sinh trình bày ý kiến của mình sau đó cho các em nhận xét ý kiến của nhau. Chỉ có thể phát huy được vai trò tích cực, chủ đạo, sáng tạo của các em thông qua hệ thống các câu hỏi và các dạng bài tập thực hành, thông qua các dạng bài tập học sinh sẽ tự tìm đến với tri thức một cách sâu sắc, từ đó các em tự vận dụng hoàn thiện kỹ năng cho bản thân mình.
    Đổi mới phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” không có nghĩa là để cho học sinh làm việc một cách quá tự do. Bản thân các em cha có vốn hiểu biết nhiều trong khi đó kiến thức thì mênh mông. Do đó không thể phủ nhận vai trò của người giáo viên. Giáo viên là người chỉ đạo hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự tìm đến với kiến thức. Hay nói khác đi trong một giờ dạy không loại trừ được hoạt động giảng bài của giáo viên. Cũng có lúc giáo viên phải giảng giải, giải thích cách làm cho học sinh hoặc tổng kết, phát triển các ý trong bài, liên hệ các bài học với nhau và liên hệ bài học với thực tế để nâng học sinh lên tầm nhận thức mới.
    Trong một giờ dạy Tiếng việt bên cạnh hoạt động tổ chức cho học sinh học tập, hoạt động giảng bài của giáo viên còn có hoạt động kiểm tra, đánh giá. Thông qua sự kiểm tra, đánh giá giáo viên với học sinh đã thể hiện được tác động “hai chiều” trong khi dạy và học. Giáo viên có thể kiểm tra học sinh với nhiều hình thức khác nhau: Kiểm tra bài cũ, kiểm tra đánh giá kết quả trên lớp. Thông qua kết quả kiểm tra giáo viên có thể đánh giá được khả năng tiếp thu của học sinh, còn học sinh tự đánh giá được mức độ nhận thức của bản thân. Từ đó cả giáo viên và học sinh rút ra được kinh nghiệm, tìm ra phương pháp dạy, học phù hợp cho các tiết sau.
    Sau đây là một thiết kế hoạt động dạy học giờ Tiếng việt mà tôi đã giảng dạy:
    Bài 21: So sánh (Tiếp theo)
    I: Mục tiêu bài học:
    Học sinh nắm đợc
    - Các kiểu so sánh.
    - Tác dụng nghệ thuật của phép so sánh.
    II: Tổ chức hoạt động dạy học:
    - Hoạt động 1: Giáo viên giúp học sinh xác định các kiểu so sánh, giáo viên dựa vào câu hỏi SGK để tổ chức cho học sinh tìm hiểu phân tích mẫu.
    Hãy nhắc lại những từ so sánh (T) đã học ở tiết trớc.
    - Các từ so sánh đã học: Như, như là, bằng, tựa, hơn, ...
    Trong khổ thơ của Trần Quốc Minh có thấy các từ so sánh ấy không?
    - Trong khổ thơ này không có các từ ấy.
    Tìm những phép so sánh trong khổ thơ

    - Phép so sánh 1
    Phép so sánh 2
    
    A: Những ngôi sao
    A: Mẹ
    
    B: Mẹ đã thức
    B: Ngọn gió
    
    T: Chẳng bằng
    T: Là
    
    Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận hai vấn đề:
    + (T) trong các phép so sánh trên có gì khác nhau?
    + Tìm các (T) tương tự mà em biết?
    - Sự khác nhau trong các phép so sánh trên.
    T: Chẳng bằng ( vế A không bằng vế B
    T: Là ( vế A không bằng vế B
    - Các (T) tương tự:
    + So sánh ngang bằng: nước mưa là của trời.
    + So sánh không ngang bằng: Thà rằng ăn bát cơm rau
    Còn hơn cá thịt nói nhau nặng lời
    Giáo viên kết luật về các kiểu so sánh: Ngang bằng và không ngang bằng.
    Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác dụng của so sánh.
    Giáo viên cho học sinh đọc diễn cảm đoạn văn của Khải Hưng.
    Tìm những câu văn có sử dụng phép so sánh
    - Có chiếc lá tựa mũi tên nhọn.
    - Có chiếc lá như con chim lảo đảo.....
    - Có chiếc lá nh thầm bảo rằng......
    - Có chiếc lá nh sợ hãi....
    Sự vật nào được đem ra so sánh trong hoàn cảnh nào?
    Những chiếc lá đợc đem ra so sánh trong hoàn cảnh đã rụng.
    Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm vấn đề:
    Em có cảm nghĩ gì sau khi đọc đoạn văn? Nhờ đâu mà em có cảm nghĩ đó?
    - Đoạn văn hay, giàu hình ảnh gợi cảm và xúc động. Có được cảm nhận đó là do tác giả đã sử dụng phép so sánh một cách linh hoạt, tài tình, chỉ là một chiếc lá thôi mà có đủ các cung bậc tình cảm vui buồn của con ngời được gửi gắm trong đó.
    Giáo viên tổng kết khái quát về tác dụng của so sánh.
    Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập.
    Bằng hệ thống bài tập SGK giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận, phân tích, nhận xét để khắc sâu lý thuyết đã học.
    Giáo viên mở rộng, nâng cao, liên hệ
     
    Gửi ý kiến